Quan sát viên Tư pháp Trung Quốc

中 司 观察

Tiếng Anhtiếng Ả RậpTiếng Trung (giản thể)Tiếng Hà LanTiếng PhápTiếng ĐứcTiếng Hin-ddiTiếng ÝTiếng NhậtTiếng HànBồ Đào NhaTiếng NgaTiếng Tây Ban NhaTiếng Thụy ĐiểnHebrewTiếng IndonesiaTiếng ViệtTiếng TháiTiếng Thổ Nhĩ KỳNgười Malay

Diễn đàn không thuận tiện được áp dụng lần đầu tiên trong trường hợp gần đây của SPC

Thứ ba, ngày 28 tháng 2020 năm XNUMX
DANH MỤC: Insights

hình đại diện

 

Tòa án Nhân dân Tối cao (SPC) lần đầu tiên áp dụng học thuyết diễn đàn không tiện lợi (FNC) vào tháng 2019 năm XNUMX, đạt được một bước tiến quan trọng trong thực tiễn hoàn toàn mới này, vốn còn xa lạ đối với hầu hết các tòa án Trung Quốc.

Vụ án WONG ChungShing kiện Wong Chunho (黄松盛 、 黄振豪 侵权 责任 纠纷 案) ([2019] Zui Gao Fa Min Zhong số 592) ([2019] 最高 法 民 终 592 号) (sau đây gọi là "Vụ án Wong") là trường hợp đầu tiên và cho đến nay là trường hợp duy nhất mà TANDTC đã bác bỏ vì lý do của học thuyết FNC.

I. Giới thiệu

TANDTC đã quy định các điều kiện để áp dụng học thuyết FNC trong các diễn giải tư pháp có liên quan. [1] Tuy nhiên, các điều kiện này nói chung khó được đáp ứng, vì vậy học thuyết FNC hiếm khi được sử dụng để bác bỏ một vụ án trong thực tiễn tư pháp của Trung Quốc. Cho đến nay, theo tôi biết, ở Trung Quốc chỉ có ba trường hợp như thế này, bao gồm cả trường hợp Wong nói trên. (Đối với hai trường hợp còn lại, hãy xem Hãy suy nghĩ hai lần trước khi đệ đơn đề nghị bãi nhiệm trên Diễn đàn Cơ sở không thuận tiện ở Trung QuốcDiễn đàn Người không thuận tiện ở Trung Quốc: Các tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất từ ​​trước đến nay).

Là vụ án sơ thẩm được TANDTC thụ lý, bản án sơ thẩm đã được Tòa án nhân dân cấp cao Quảng Đông tuyên [(2018) Yue Min Chu số 24] [(2018) 粤 民初 24 号], phán quyết cuối cùng của Wong Trường hợp đã có hiệu lực.

II. Tình huống ngắn gọn

1. Tình tiết vụ án

Các bên liên quan trong vụ án: nguyên đơn Wong ChungShing (sau đây gọi là “Wong A”); bốn bị cáo Wong Chunho (sau đây gọi là “Wong B”), Canada Transmarine Investment Management Ltd. (sau đây gọi là “Canada Company”), Everrise Hongkong Group Limited (sau đây gọi là “Hong Kong Company”) và Zhuhai Free Trade Zone Jiahua Container Terminal Co., Ltd. . (sau đây gọi là “Công ty Chu Hải”).

Vào ngày 24 tháng 2012 năm XNUMX, Wong A và Wong B đã ký một thỏa thuận về việc chuyển nhượng vốn cổ phần của Công ty Canada (sau đây gọi là “Thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần của Công ty Canada”), đồng ý rằng Wong A sẽ chuyển nhượng vốn cổ phần của mình tại công ty Canada cho Wong B. Tuy nhiên, thỏa thuận không quy định tòa án có thẩm quyền và luật điều chỉnh.

Vào ngày 28 tháng 2012 năm XNUMX, Wong A đã đệ đơn kiện Wong B lên tòa án Canada có liên quan do tranh chấp về Thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần của Công ty Canada. Tòa án đã ban hành lệnh tòa dựa trên đơn của Wong A, ra lệnh rằng Wong B, trực tiếp hoặc gián tiếp, không được chuyển nhượng, định đoạt hoặc thế chấp tất cả cổ phần của Công ty Canada.

Vào ngày 20 tháng 2014 năm XNUMX, Công ty Canada và Công ty Hồng Kông đã ký một thỏa thuận về việc chuyển nhượng vốn chủ sở hữu của Công ty Chu Hải (sau đây gọi là “Thỏa thuận chuyển nhượng vốn chủ sở hữu của Công ty Chu Hải”), đồng ý rằng Công ty Canada sẽ chuyển nhượng vốn cổ phần của mình tại Công ty Chu Hải sang Hồng Kông Công ty.

Sau đó, Wong A đã đệ đơn kiện lên Tòa án nhân dân cấp cao Quảng Đông, yêu cầu tòa xác nhận rằng cả Thỏa thuận chuyển nhượng vốn cổ phần của Công ty Canada và Thỏa thuận chuyển nhượng vốn chủ sở hữu của Công ty Chu Hải đều vô hiệu. Tòa án nhân dân cấp cao Quảng Đông đã bác bỏ trường hợp của Wong A với lý do dựa trên học thuyết FNC, nhưng Wong A không hài lòng và đã kháng cáo lên TANDTC.

2. Quan điểm của SPC

SPC cho rằng hiệu lực của hai thỏa thuận chuyển nhượng vốn cổ phần phải tuân theo học thuyết FNC và vụ việc cần được bác bỏ theo đó.

Thứ nhất, cả Wong A và Wong B đều là bên nước ngoài, các thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần liên quan cũng liên quan đến một công ty đăng ký tại Canada; Wong A đã đệ đơn kiện lên tòa án Canada về hiệu lực và các tranh chấp bồi thường của thỏa thuận, và tòa án Canada đã ban hành lệnh tòa liên quan. Do đó, mặc dù tòa án Trung Quốc có thẩm quyền đối với các tranh chấp do địa điểm ký kết Thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần của Công ty Canada, một khi Wong B phản đối quyền tài phán, tòa án Trung Quốc cũng nên xem xét liệu vụ việc có thuộc các trường hợp của FNC hay không (Xem Điều 532 của Giải thích Luật Tố tụng Dân sự (民诉法 解释)).

Thứ hai, vụ án này thuộc các trường hợp FNC do luật pháp Trung Quốc quy định, cụ thể: (1) giữa Wong A và Wong B không có thỏa thuận lựa chọn tòa án Trung Quốc là tòa án có thẩm quyền; (2) vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng của các tòa án Trung Quốc; (3) cho rằng cả hai bên và đối tượng đều không ở Trung Quốc, vụ việc không liên quan đến lợi ích nhà nước của Trung Quốc, lợi ích của công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác của Trung Quốc; (4) thực tế tranh chấp chính không xảy ra ở Trung Quốc, và tranh chấp không bị điều chỉnh bởi luật pháp Trung Quốc. Do đó, thật bất tiện cho các tòa án Trung Quốc trong việc tìm ra sự việc và áp dụng luật nếu họ xét xử vụ án này; (5) Lựa chọn đầu tiên của Wong A là khởi kiện ở Canada. Tòa án Canada đã thụ lý vụ việc và ban hành lệnh tòa dựa trên đơn của Wong A, điều này cho thấy tòa án Canada có thẩm quyền đối với vụ việc và tòa án Canada xét xử vụ việc sẽ thuận tiện hơn.

Do đó, TANDTC đã đồng ý với bản án sơ thẩm rằng trường hợp của Wong A về hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng vốn cổ phần sẽ bị hủy bỏ.

III. Bình luận

Việc áp dụng học thuyết FNC có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động tương trợ tư pháp dân sự quốc tế. Các tòa án Trung Quốc đang chủ động cố gắng áp dụng học thuyết FNC để giải quyết các vấn đề do tranh tụng song song mang lại. Như đã nêu trong phán quyết của tòa án nhân dân cấp trung gian của Trung Quốc: “trên cơ sở bảo vệ đầy đủ chủ quyền tư pháp và không vi phạm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục, thái độ tôn trọng và áp dụng hợp pháp học thuyết FNC đối với tư pháp ngoài lãnh thổ quyết định (lệnh) hoặc tranh tụng song song trong lĩnh vực luật tư là điều cần thiết để thiết lập một hệ thống tư pháp có tính hợp lý, thiện chí, có đi có lại, bình đẳng và cởi mở. ”[2]

 

[1] 参见 : 最高人民法院 关于 适用 《中华人民共和国 民事诉讼 法》 的 解释 (法 释 [2015] 5 号)。
[2] 参见 : 江苏 省 镇江 市 中级 人民法院 (2013) 镇 商 外 初 字 第 13 号 民事 判决书。

 

Ảnh của Zetong Li (https://unsplash.com/@zetong) trên Unsplash

Đóng góp: Zilin Hao 郝 梓 林

Lưu thành file PDF

Bạn cũng có thể thích

Áp dụng CISG của các Tòa án Trung Quốc

Một nghiên cứu gần đây về việc áp dụng Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế tại các Tòa án Trung Quốc cung cấp một góc nhìn về cách các tòa án Trung Quốc áp dụng và giải thích CISG.

Các Phán quyết Gian lận Thị thực EB-5 của Hoa Kỳ được công nhận một phần ở Trung Quốc: Công nhận thiệt hại nhưng không phải thiệt hại trừng phạt

Vào năm 2022, Tòa án Nhân dân Trung cấp Quảng Châu đã ra phán quyết công nhận và thực thi một phần ba bản án liên quan đến gian lận thị thực EB-5 do Tòa án Quận Hoa Kỳ đưa ra lần lượt cho Quận Trung tâm California và Tòa án Thượng thẩm California, Quận Los Angeles.

Lần thứ ba! Tòa án Trung Quốc công nhận Phán quyết của Hoa Kỳ

Vào năm 2020, Tòa án Nhân dân Trung cấp Ninh Ba của Trung Quốc đã ra phán quyết trong vụ Wen kiện Huang và cộng sự. (2018) công nhận và thực thi phán quyết của Hoa Kỳ, đánh dấu lần thứ ba các phán quyết về tiền tệ của Mỹ được thực thi tại Trung Quốc.

Cách Tòa án Trung Quốc xác định có đi có lại trong thực thi phán quyết ở nước ngoài - Đột phá về thu thập phán quyết ở Trung Quốc Series (III)

Trung Quốc đã công bố một chính sách tư pháp mang tính bước ngoặt về việc thực thi các phán quyết nước ngoài vào năm 2022. Bài đăng này đề cập đến các tiêu chí mới được đưa ra để xác định có đi có lại, đảm bảo các nỗ lực về cơ bản mở cửa cho các phán quyết nước ngoài.